![]() |
| Trải nghiệm tại nông trại Tree 21-1-16 |
Vẫn biết sống là hướng về tương lai, nhưng dĩ vãng là tấm gương nên ngắm lại.
Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016
Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016
MỘT NGÀY TRẢI NGHIỆM TẠI NÔNG TRẠI TREE
Học kì
1 năm học 2015-2016 vừa kết thúc, trường Tiểu học Trần Thị Ngọc Hân, ở huyện
Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo như dự kiến đã tổ chức cho học sinh từ khối
3 đến khối 5 cùng trải nghiệm, hóa thân làm nông dân.
Sáng sớm, từ 6 giờ 30, tại sân trường, học sinh
và phụ huynh đã đến đông đủ. Đoàn xe có 14 chiếc, là những chiếc xe lớn trên 50
chỗ ngồi. Mỗi xe gồm một hoặc hai lớp ghép lại, được đảm nhiệm bởi anh chị
hướng dẫn viên và cô giáo chủ nhiệm, có thêm một vài phụ huynh đi theo.
Đúng 7 giờ, đoàn xe bắt đầu khởi hành.
Theo thứ tự học sinh của từng chiếc xe xuống và được bàn giao cho hai anh chị nông dân của nông trại, đó là sự hóa thân của hai anh chị nhân viên trong bộ đồ bà ba nâu và khăn rằn. Xe số 9 được “ Anh chàng đẹp trai” và chị Duyên đảm trách. Các em tíu tít bên hai người này, cùng nhau xếp hàng hai đi vào bên trong. Hôm nay, không những học sinh trường tiểu học Trần Thị Ngọc Hân mà có cả trường trung học cơ sở Trần Quốc Tuấn, … nên khu vực trại rất đông đúc, tuy nhiên nhờ có sự tổ chức chặt chẽ, linh hoạt nên việc quản lý học sinh khá tốt. Nghe nói khuôn viên này có diện tích 2000 mét vuông, được tổ chức tham quan có tính hướng nghiệp.
Đúng 7 giờ, đoàn xe bắt đầu khởi hành.
Trên xe số 9 gồm 37 học sinh lớp Bốn 3 và 10 em lớp Năm 7 . Anh Tâm hướng dẫn viên vui vẻ giới thiệu chương trình các em sẽ tham gia trong ngày trải nghiệm. Anh nhắc nhở nhất là các em phải chấp hành theo đúng quy định của đoàn và nông trại Tree.
Xe đến nơi.
Các
em đã đi vào đúng vị trí và ngồi xuống trên một tấm bạt lớn.
Đầu tiên, các em sẽ theo dõi hai anh chị hướng dẫn cách gói bánh chưng. Mùa nào thức ấy: dịp này, Tết về, nên nông trại cho các em học cách gói bánh chưng, bánh cổ truyền của người Việt. Nếp và đậu xanh đã được ngâm, đãi sạch, lá chuối cũng được chuẩn bị, dây lạt sẵn sàng rồi. Bao cặp mắt chăm chú theo dõi, để tí nữa thôi, chính tự tay các em sẽ gói bánh để sau đó bánh được nấu chín, chiều đem về nhà khoe với ông bà, ba mẹ.
Việc gói bánh vừa xong, các em tiếp tục đi tham quan các công đoạn làm ra các con heo đất. Đi theo con đường giữa vườn bắp xanh um, bắp giờ đã ra trái. Những bụi chuối trổ buồng ven con lạch. Những ô ruộng lúa đã trổ đòng, có anh bù nhìn canh không cho chim phá. Những bụi tre, những cây xanh lên khá cao cũng đủ bóng mát che cho trẻ. Các em nói mua một con heo đất để bỏ tiền tiết kiệm ở chợ chỉ với giá 5 nghìn đồng, nhưng khi tận mắt xem qua một vài trong 24 công đoạn làm con heo bé dễ thương như thế này mới quý công sức lao động của các cô chú. Hai anh, chị thay phiên hướng dẫn các em, vừa làm vừa giải thích, sau đó cho các em từng nhóm lên đổ nước hồ đất sét vào khuôn. Xong việc đổ khuôn, nhờ mấy người ra phơi, còn các em tiếp tục đi cấy lúa. Hẹn chiều, sẽ trở lại nơi này để mỗi em được nhận một chú heo xinh xinh còn thô, về nhà tự vẽ, tô màu theo ý thích, để tết tha hồ bỏ tiền lì xì.
Công
việc tiếp là lội ruộng đi cấy lúa. Cả đoàn theo nhau đi thay áo quần nông dân,
học sinh nam đi theo “Anh chàng đẹp trai”, còn nữ theo chị Duyên, cùng nhau xắn
ống quần thể dục lên cao và khoác vào chiếc áo bà ba màu nâu, cùng nhau hô
vang: “ Không sợ bùn, không sợ dơ”. Cả đoàn đi theo hàng qua ô ruộng nho nhỏ.
Anh chị bày cách lội xuống ruộng để khỏi bị “ ngã bắt ếch”, cách cầm nắm mạ non,
cách cấy vài cây mạ ấn sâu xuống bùn. Một, hai, ba bắt đầu thi đội nam và nữ
giữa tiếng vỗ tay cổ vũ của bạn bè. Vậy mà có bạn lại bị ngã, vì bùn trơn trợt
lắm. Khi đã bước chân xuống bùn rồi, các em cũng mạnh dạn hẳn lên. Bùn văng
tung tóe trên mặt, tay chân, cả áo quần các em. Có em nam nghịch ngợm đòi bước
qua cầu khỉ bắt qua con lạch nước nhỏ.
Bắt cá
là việc trải nghiệm vui thú nhất! Nam nữ lội xuống nước, giành nhau
bắt những chú cá lóc khá lớn. Em học trò nam nhanh nhẹn bắt được rất nhiều con.
Lội bùn bắt cá không làm các em học trò thành phố ngần ngại chút nào mà còn
phấn khích là đằng khác.
Dù sao
cũng đã thấm mệt rồi. Nắng đã lên đỉnh đầu. Mồ hôi nhễ nhại vì lao động. Anh
chị chia ra dẫn hai đoàn đi tắm thay áo quần sạch, chuẩn bị ăn cơm trưa và nghỉ
ngơi. Sau bữa cơm thân mật, các em trở về vị trí đầu, ngồi nghỉ dưới những tán
cây râm mát.
Buổi chiều, tiếp tục
các trò chơi tập thể dưới sự hướng dẫn vui nhộn và hay chọc cười của hoạt náo
viên. Tất cả học sinh tập trung về ở sân lớn. Các trò chơi tiếp tục diễn ra
thật sôi nổi…
Nắng
chiều bớt chói chang hơn. Khuôn mặt em nào đỏ ửng nhưng vẫn tươi cười. Anh chị
tiếp tục dẫn đoàn học sinh về chỗ hồi sáng để xem cách gỡ khuôn con heo đất.
Thật ra, vì không có thời gian nên học sinh chỉ tự tay làm được hai công đoạn:
đổ khuôn và gỡ khuôn ra. Những chú heo con ngộ nghĩnh được các em nhẹ nhàng
bưng ra đặt trên tấm lót để phơi nắng, còn các em được nhận heo đất đã nung
chín rồi. Khi cầm trên tay chú heo con màu đỏ mới nung, em mới thấy niềm vui
sướng, hãnh diện.
Anh chị nhanh nhẹn đem bánh chưng đã luộc chín về chia cho mỗi em một cái. Giờ phút chia tay đã đến, cả đoàn học sinh chụp hình lưu niệm cùng chị Duyên phụ trách.
Một ngày trải nghiệm
làm nông dân của cháu ngoại tôi cũng như các em học sinh trường Tiểu học Trần
Thị Ngọc Hân đã kết thúc. Các em về trường, trở về gia đình mà trong lòng lưu
luyến lắm. Đây là một kỉ niệm đẹp trong lòng các em, là những cô bé, cậu bé học
trò tiểu học. Các em sẽ thấy yêu quý hơn công sức lao động của bà con nông dân
khi làm ra hạt gạo, càng thấy yêu hơn những sản phẩm làm từ đất trên chính mảnh
đất miền Nam quê hương của các em.
(*
Người kể là bà ngoại của cháu, đi theo chuyến dã ngoại nhà trường.)
Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015
Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015
Chiều về nghe tiếng chân quê(ĐTH)
(Chuyến về thăm quê ngoại
tháng 3 năm 2015- Đinh Thị Hiệp)
Ngã ba, gần cầu Ga cũ là nơi tôi chia tay con gái. Con gái
của tôi theo người bạn ra đến tận Gio Linh, miền đất khô cằn gần địa đầu giới
tuyến trước đây mà chưa một lần tôi đặt chân đến. Còn tôi, tôi sẽ về làng Nại
Cửu, quê ngoại, một ngôi làng còn nghèo nàn bên dòng sông Vĩnh Định.
Chuyến xe chiều đưa khách từ Huế ra Quảng Trị vừa dừng lại.
Tôi bước xuống xe, trong lòng còn hồi hộp e rằng sẽ đứng chờ mãi ở đó. Chiếc xe
vụt chạy đi mang theo hai người thân, rồi bóng xe xa, khuất dần về đầu cầu
Thạch Hản. Một người thanh niên đứng chờ bên cạnh trụ đèn, đang hướng mắt nhìn
tôi. Đúng là Hào rồi, thoáng nhìn tôi nhận ra ngay vì cách đây 3 năm lần về quê
tôi đã gặp.
Hào chở tôi về trên con đường Trần Hưng Đạo. Ngang qua phố
chợ, người, xe cộ khá nhộn nhịp. Lần này, qua đây cảm xúc của tôi đã lắng dịu,
không như lần đầu ngày trở về, đã cách xa Quảng Trị 40 năm khi tìm về cội
nguồn. Tôi đã dần cảm nhận được sự thân quen của con đường chính dẫn về làng,
những hình ảnh ngày hôm nay biết có thể thay thế cho Quảng Trị xưa trong kí ức
tôi không nhỉ!
Tôi tìm về làng ngoại, nơi gia đình cậu Dâu (Cậu Võ Thế Hòa
là người em bà con của mẹ tôi) sinh sống, tôi coi đó là nơi phải đến nếu có khi
trở về. Người thân của tôi vào Nam
sinh sống hết, còn lại nơi đây là những người thân yêu, bà con đã nằm xuống
trong lòng đất, một tay nhờ cậy cậu nhang khói. Vẫn là con đường vào An Tiêm
cho nhanh, con đường đất đỏ muôn thuở có lũy tre xanh, ngả bóng bên bờ sông
Vĩnh Định. Cậu mợ và các con cậu đã dành tình cảm thân thương cho tôi, rất mừng
khi nghe tôi sẽ về làng. Tôi chưa tìm ra bến cũ, chỉ nghe nói bến sông thơ mộng
ngày nao không còn nữa. Ven sông, thỉnh thoảng thấy từng bầy vịt đông đúc được quây
lại thành đàn; không còn nữa làn nước trong veo, không còn đâu dòng sông chảy
hiền hòa mà ngày nao dịp lễ Tết lũ trẻ chúng tôi tìm xuống bến, chỉ việc thả
đôi chân xuống làn nước mát lạnh hoặc tha hồ vung vẩy nước chọc ghẹo nhau là
thấy thích thú lắm rồi! Xưa kia, từ bến sông này, tôi đã mãi đứng nhìn dòng
sông chảy về xuôi trong ánh nắng trưa hè hoặc trong nắng ấm xuân nồng nàn. Cũng
từ ven sông, đứng đây, tôi tìm mãi mà không thấy bóng dáng chiếc đò nào! Hôm
nay đây nghe dòng sông dần chết để cho nguồn nước từ mương đập của công trình
thủy lợi tưới mát, làm sống dậy bao cánh đồng. Vào khoảng đầu hè, những cánh
đồng lúa đã ngậm đòng, chỉ đợi vào vụ gặt. Nhà cậu không làm nhiều lúa, do cậu
bị bệnh và cậu nói: “Thằng Hào thì quanh quẩn mấy công việc phụ cho cậu Hóa ở
trên tỉnh”. Cậu chỉ cho tôi xem chái cạnh nhà có cái bồ đựng lúa khá lớn. Nếu
bán hết lúa được bao nhiêu hả cậu? –Chỉ vài triệu thôi con. Tiếng thở dài kèm
theo của cậu. Tôi nhẩm tính với vài triệu của người nông dân rất lớn để phải
tốn biết bao nhiêu mồ hôi, dầm mưa dãi nắng trên ruộng đồng.
Sau
buổi cơm chiều mộc mạc, cậu tôi kể cho tôi nghe chuyện xưa nhà mệ ngoại tôi ở
gần nhà cậu. Cậu ruột tôi là cậu Võ Đình Cư là người đi đầu, dẫn dắt cả nhà lên
ở đường Lê Văn Duyệt, người ta gọi là lên tỉnh để mưu sinh và tìm cuộc sống an
toàn hơn. Tôi tưởng tượng ra ngôi nhà tranh đâu đó của ông bà ngoại, thời ông
còn đi lính Khố đỏ. Mẹ tôi là cô gái trẻ, duyên tình dở dang vì người yêu không
đành bỏ cô gái đang bị bệnh lại ở ven sông khi Pháp càn quét nên anh ta bị giặc
bắt đem đi bêu đầu!
Cả
ngày nay, tôi đã đi khá nhiều nơi, cần có giấc ngủ để lấy sức cho ngày hôm sau.
Sáng ngày mai, khi mặt trời vừa hửng, tôi sẽ ra thăm mộ tổ tiên bên ngoại ở
nghĩa trang đầu làng.
Bóng
tối buông xuống từ hồi nào, ngoài trời phủ một màn đen như mực, chỉ có ánh đèn
hắt từ trong nhà ra khoảng sân. Nhà cậu còn dùng chiếc ti vi màu nhỏ, đó là
niềm vui duy nhất của hai người lớn trong nhà này. Hào là cậu trai làng, ngày
ngày ngoài việc chạy lên tỉnh thì còn lại đi lông bông nhà bạn bè trong xóm. Từ
chiếc giường ngủ nhìn ra cửa sổ là khu vườn nhỏ nhà cậu. Mở cửa cho thoáng mát
và tận hưởng toàn vẹn hương quê nhà, một mùi ngai ngái của cây lá tre mục, của
đống rơm rạ… chẳng lẫn vào đâu và chốn thị thành không thể nào có. Đêm không có
trăng, ông trăng đi đâu mất rồi để một người như tôi có thể ngấm vào mình những
cảm xúc một mình trên miền quê. Tôi chợt nhớ có lần anh về làng Truồi, đi đò
trên sông, anh thấy thật thú vị và có một mong muốn sau này về già, nên về quê,
nơi có những dòng sông như thế để sinh sống, để hòa mình với thiên nhiên. Tiếng
côn trùng ri rỉ đâu đó thật xa, tiếng lá cây xào xạc, thật yên tĩnh biết bao!
Ấm nước chè xanh mợ hái từ cây chè vườn nhà, pha tí gừng; uống hớp nước nong
nóng lại thấy ấm bụng; tuy uống chè nhưng giấc ngủ vẫn đến với tôi thật nhẹ
nhàng.
Đêm nay, tôi tiếp tục mơ những chuyến đi. Ôi! Ngọt ngào sao
hai tiếng Quê Hương!
“Quê
hương tôi có con sông xanh biếc
Nước
gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm
hồn tôi là những buổi trưa hè
Tỏa
nắng xuống giòng sông lấp loáng.”
(Nhớ con sông quê hương-Tế Hanh)
Trưa thứ sáu, 8-5-15
Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015
Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015
Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015
Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014
Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014
Lòng tham có thể chế ngự chăng?
Tôi muốn đề cập đến là LÒNG THAM của con người.
Phàm là con người, ai cũng có lòng tham, có cơ hội trỗi dậy, nếu mình không chế ngự thì về lâu về dài, lòng tham dần dà thành một thói quen rất nguy hại, cho bản thân và cả xã hội.
Nền gốc đạo đức trong gia đình rất quan trọng. Là cha mẹ, biết giáo dục con cái tính ngay thẳng, lương thiện từ bé; dù cái kim sợi chỉ, dù những vật dụng của người khác mình không thể tham lam lấy đó làm cho riêng mình; cha mẹ làm gương tốt thì con sẽ học theo, sẽ không có những hành vi sai trái sau này. Mỗi gia đình có những con người đạo đức, biết làm chủ bản thân, nhiều gia đình như thế, nhiều tế bào đẹp đẽ như thế tất nhiên sẽ không tạo ra cái xã hội nhiễu nhương như hiện nay, xã hội mà con người đang có đà sống lạnh lùng, tham lam, chực chờ làm hại người khác, lấy của người ta làm của mình,…
Câu chuyện tôi muốn kể là:
CUỘN TIỀN DOLLAR CỦA THƯƠNG NHÂN NGƯỜI HOA.
Một buổi chiều sau khi đi học về, tôi có thói quen ra trước nhà để chơi.
Cửa hiệu buôn của dì và mẹ tôi ở ngôi nhà số 34 đường Trưng Trắc trong khu chợ của thị xã Quảng Trị hồi ấy. Bên trái là tiệm chụp hình Li Do, bên phải là một tiệm của gia đình người Hoa. Có mấy bà đang ngồi trò chuyện có vẻ rôm rả , họ nói bằng tiếng Hoa, lâu lắm xen vào vài câu tiếng Việt. Trời đã về chiều, ai về nhà ấy vội đóng cửa lại vì thời buổi chiến tranh loạn lạc đang rình rập đâu đó. Tôi bỗng thấy một cuộn tiền ai đó đánh rơi ở trước cửa tiệm người Hoa. Tôi qua nhặt về mà tay run ghê lắm vì lần đầu tôi thấy một số tiền có nhiều như thế! Đó là những tờ giấy tiền dollar được cuộn tròn lại. Tôi vào nhà đưa cho mẹ xem, hai mẹ con cứ nghĩ đến ai đó mất tiền giờ này chắc phải lo lắng đi tìm. Mẹ tôi hỏi tôi lượm được ở đâu? Tôi kể sự việc hồi chiều đến giờ cho mẹ nghe và nơi tôi đã lượm được số tiền. Mẹ đoán chừng đây là tiền của người hàng xóm bên cạnh tiệm nhà mình, bảo sáng mai hỏi rõ ràng để trả lại cho người ta. Đúng là như vậy, đó là số tiền của bà người Hoa nhà bên cạnh, tối qua bà tìm mãi không thấy nghĩ rằng mình đã đánh mất không có cơ hội tìm lại. Khi biết được mẹ con tôi qua hỏi trả lại, bà rất cảm kích. Bà qua nhà cảm ơn và tặng quà cho tôi. Tôi không dám nhận nhưng mẹ cho phép vì đó là tấm lòng của bà, mình không nhận bà ấy sẽ buồn.
Câu chuyện này tuy nhỏ nhưng đã làm cho tôi vui, mà đầu tiên là mẹ tôi đã dạy tôi một bài học làm người ngay sống ngay thẳng, không tham lam của người khác. Từ thưở nhỏ, đạo đức tôi được học từ gia đình, từ người cha, người mẹ, anh chị của tôi, tôi còn học được những bài học đạo đức từ mái trường, tôi vẫn còn nhớ những chuyện kể của cô thầy, được đọc qua từ những quyển truyện chọn lọc. Mẹ tôi dạy con không văn vẽ nhưng bằng tấm lòng chân thật, giản dị, biết sống đúng. Khi đã trưởng thành, trong công việc, có những khi tôi đứng trước sự chọn lựa có nên nhận của người khác không một khi họ có ý đồ nhờ vả mình. Tùy theo việc, tôi sẵn lòng giúp đỡ người khác không màng tham vọng, không vụ lợi, toan tính. Sau này, tôi lại dạy con từ những việc giản đơn trong đời sống, hi vọng con sẽ sống ngay thẳng như người mẹ, để sau này các con mang hành trang sống đó vào đời.
Sáng 27-10-14
Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014
Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014
Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014
Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014
Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014
NHỮNG TRẢNG RỪNG
NHỮNG TRẢNG RỪNG
Tôi đã gần như quên đi hình ảnh những trảng rừng Bắc
Ruộng, nơi đó ngày nào tôi cùng đoàn người lên khai hoang.
Vào những ngày giữa mùa khô năm 1978, trời vẫn chưa
chuyển cơn mưa nào.
Vượt qua con đường đất đỏ lầy lội, nhiều ổ voi, ổ gà, có khi phải xuống phụ nhau đẩy xe qua
nhiều chỗ bị sụp lầy, rồi cuối cùng, chiếc xe cà tàng cũng đã chạy lên đến nơi,
thả mọi người xuống ngoài bìa rừng. Tôi nghe họ gọi tên cả một trảng rừng trước
mặt tôi là rừng Bắc Ruộng. Tôi vừa rời ghế nhà trường, đi theo đoàn người ở địa
phương để làm nghĩa vụ lao động. Tôi chưa hình dung mình sẽ làm những gì khi
vào rừng. Rời xe, đoàn người đi vào sâu bên trong tìm chỗ để đặt làm lán trại.
Trời vẫn còn nắng, từng tia nắng len lỏi qua bao tán lá rậm rạp. Chúng tôi, cả
đoàn người đi bộ qua những đám cây đã bị chặt còn nham nhở. Ai cũng tay xách
nách mang những thứ áo quần, vật dụng để ở lại trong nhiều ngày. Bước chân
chúng tôi vẫn dè chừng những gốc cây nhọn chỉa lên trời và rắn rít trên cả lối
đi. Men theo con suối vừa cạn khô, đám người leo lên con dốc cao hơn. Đây là
khoảng đất trống khá bằng phẳng sẽ là nơi chúng tôi ở lại trong nhiều ngày. Các
chú, các bác và thanh niên đi tìm cây nhỏ để chặt, họ tỉa hết cành lá; các cô,
các chị chờ sẵn đó kéo về để làm cho kịp trước khi màn đêm buông xuống. Họ lựa
ra nhiều thân cây tương đối đều để làm cột thít vào nhau làm vạt nằm. Mấy anh
thanh niên nhanh nhẹn phụ việc, họ dùng lạt mây đã chẻ sẵn để cột. Mây này cũng
do mấy người kéo từ trong rừng ra, dùng chiếc rựa bén chẻ dọc theo thân cây mây
dài, thứ dây thiên nhiên này đem cột thì chắc lắm. Người chẻ lạt mây, người tỉa
cho cây nhẵn hơn, họ nhanh tay đua với thời gian, các chú đang còn chờ lấy nối
vào chiếc vạt đang còn bỏ dở. Tối này là buổi tối đầu tiên xa nhà, sẽ phải nằm giữa
rừng đây. Mái lợp bằng lá kè, lá buông cũng đã được lợp lên rồi, có thể che
nắng và cơn mưa bất chợt đổ ập đến.
Màn đêm đã buông xuống từ lâu, đâu đó có vài đống lửa cao thỉnh thoảng lại cháy bùng lên. Tất cả chuẩn bị cho một ngày mai bắt tay vào việc phát quang rừng. Nằm thao thức không ngủ vì tôi đang còn nghĩ về tương lai đang còn chờ ở phía trước. Những tiếng chim kêu đêm, tiếng côn trùng ri rỉ đâu đó…thật buồn làm sao!
Một ngày mới bắt đầu, nắng đã chiếu sáng ngập cả khu rừng…
Rừng già đang dần dần bị đốn hạ bởi bàn tay con
người. Người ta dàn thành hàng ngang càng ngày càng tiến sâu vào. Cây nhỏ thì
dùng rựa phát, họ chặt bớt những dây leo chằng chịt, sau đó mới đốn cho cây ngã
xuống. Đàn bà, con gái sức yếu chỉ việc chặt cây bé, đi theo đàn ông, thanh
niên để kéo mấy cây nhỏ ra cho gọn chỗ. Những cây to có thân bằng cả một, hai
người ôm thì đã có mấy người thợ cưa vào hạ. Từng chiếc xe ben chạy vào chạy
ra, chở đi đâu những thân gỗ to, gỗ quý. Mấy tay thợ đã thạo với nghề rừng, họ
cưa sao cho cây ngã đúng hướng; khi thấy cây sắp đổ họ la to lên cho người gần
đó biết đường tránh. Cây nghiêng dần và đổ xuống mặt đất. Ầm, ầm… tiếng đổ của
cây cũng làm cho mặt đất rung lên. Có hôm, người ta xôn xao vì cây ngã đè
người, hôm khác lại có tin cây lớn đổ sang bên kia bờ suối đè lên lán trại của
dân. Tinh thần của mọi người hoang mang, ...Sau khi từng cây rừng, cây to, cây
nhỏ bị đốn hạ không thương tiếc gì., màu xanh của rừng dần biến mất, chỉ còn
lại đó là những thân cây nằm ngỗn ngang. Một đốm lửa thôi là lá khô bén cháy,
cháy lan, cháy mạnh, rồi cháy âm ỉ từ ngày này sang ngày khác cho đến khi cả
một trảng rừng già trước kia chỉ còn là những khu đất hoang tàn với từng vệt
cháy sém, cháy đen loang lổ.
Thời gian cũng trôi
qua, chậm chạp, nặng nề…
Khi từng đoàn người
này ra về, đoàn người khác lại lên làm nghĩa vụ lao động, ngày qua ngày công
việc cứ tiếp nối đều đặn như thế, thỉnh thoảng người ta lại nghe tiếng cây đổ
ầm ầm…Người muốn sống bây giờ thì cây phải đốn ngã, hàng loạt rừng bị khai tử,
để dành nơi ở cho con người, từng đợt di dân lên vùng đất Bắc Ruộng đã được
khai hoang mở lối.
Cho đến đầu năm sau,
năm 1979, tôi cùng anh về thăm Sùng Nhơn. Đi từ Phú Long, Phan Thiết về Bắc
Ruộng phải chờ chực mua vé, trải qua bao lo lắng. Xe chỉ chở chúng tôi đến
ngang bến xe Bắc Ruộng. Đó là bến đổ cuối cùng, không có chuyến xe nào lên Sùng
Nhơn cả. Tiếp tục còn trước mắt, là chặng đường dài thử thách đôi bàn chân.
“Yêu nhau mấy núi
cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.” là thế đó.
Trước mắt chúng tôi:
“Bến xe là bãi đất
trống, vắng ngắt như tờ, quanh đâu đó chỉ một vài ngôi nhà tôn mái lá kè lụp
sụp. Chúng tôi mang xắc lên vai, chẳng có gì ngoài vài món quà đơn sơ đem về
thăm gia đình; chuẩn bị tinh thần lội bộ, nghe chừng gần 30 cây số tính từ đây
về đến Sùng Nhơn. Vừa đi tôi vừa quan sát hai bên đường. Xung quanh vẫn còn lắm
trảng rừng, nhà cửa thưa thớt, đường lộ thật vắng vẻ, ít xe cộ và người qua
lại…. Trời chiều đã xế bóng, mồ hôi nhễ nhại, bước chân chúng tôi vẫn bền bỉ
trên con đường dài băng qua xã Nghị Đức, Mé-Pu…Vừa đi vừa trò chuyện nên cũng
quên đi sự mệt mỏi, lâu lắm mới dừng lại, ngồi xuống ven đường xoa bóp cho đôi
bàn chân bớt tê cứng. Đi mãi cho đến khi trời vừa sập tối chúng tôi mới về đến
nhà.”
Đã qua bao năm tháng
kể từ năm 1978…
Bắc Ruộng bây giờ đã
trở thành khu dân cư, đa số là người dân Quảng Trị…Đất lành, chim đậu - Đó như
miền đất Hứa dành cho những người dân tha phương, tìm miền quê hương mới.
Rừng đã chết để cho
con người được sống trong giai đoạn đó, giữa những năm tháng chiến tranh qua đi
nhưng còn lại vô cùng khó khăn. Đất rừng co lại để khu dân cư ngày càng rộng,
người đến sinh sống ngày càng đông. Chất mùn than của biết bao loài cây rừng
ngã xuống lại tiếp tục nuôi dưỡng cho các cây do chính bàn tay con người trồng
thêm tươi tốt, cho đời bao quả ngọt trái sai, cho thêm những vụ bắp trái ngọt
ngào. Làng mạc, quê mới của vùng đất Bắc Ruộng chắc chắn sẽ thay đổi khi khởi
đầu là con đường mới thênh thang tráng nhựa từ quốc lộ 1A chạy vào Tánh Linh,
sẽ tiếp tục vào đến Bắc Ruộng. Hai bên sẽ là những khu đất mới trồng cây cao
su, rừng bạch đàn tràn ngập một màu xanh, rừng nối tiếp rừng đang dần thay thế
cho những trảng rừng ngày xưa. Có phải chăng rừng đang hồi sinh!
Tối thứ năm, ngày
27-8-14
Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014
NỖI LÒNG NGƯỜI DÂN BIỂN
NỖI LÒNG NGƯỜI DÂN BIỂN
Tôi muốn nói đến đây là những ngư dân mà tôi đã
gặp trên những chuyến xe bus chạy dọc theo con đường ven biển hay là những con
người đang còn dãi dầu mưa nắng ngoài biển khơi. Chiếc xe chạy nhanh trên con đường vừa mới được tu sửa xong, không còn một vài chỗ gồ ghề, ổ voi, ổ gà như trước ở Tân Hải, Tân Thành …Hai bên đã lướt qua những đám ruộng giờ đóng trụ xi măng trồng thanh long, những khu đất toàn là màu xanh mượt của thanh long đang độ ra quả, chúng thi nhau nhú ra từ từng ngách lá. Ruộng muối Tân Thành chưa đến mùa thu hoạch, vẫn còn nước biển lênh láng từng ô dưới ánh nắng hanh vàng.
Xe dừng lại ngang Mũi điện Kê Gà hoặc xa hơn nữa để đón từng nhóm người, đa số là thanh niên, còn lại là trung niên và một vài lão ngư. Người nào người ấy da dẻ đen sạm, rắn chắc, tất bật bước lên, có người tay còn cầm cái bị có đâu vài con cá tươi, người khác còn mang về cả cái dầm chèo thúng, nhanh tay để dưới sàn xe. Họ trong bộ quần áo sẩm màu còn ướt át sương đêm và vị mặn chát của nước biển, còn mang theo cả mùi tanh nồng của đủ các loại cá. Tôi cũng như những người ngồi trong xe và ngay cả vài nhóm khách ngoại quốc du lịch không ai tỏ vẻ khó chịu vì sự khác biệt với nhóm người đang nói chuyện oang oang kia, hình ảnh này đã quá quen thuộc. Đây là những ngư dân, những người từng sống giữa biển khơi, từng ăn sóng nói gió như hiện nay tôi đang chăm chú theo dõi câu chuyện.
Họ đang bàn về chiếc ghe cá bình Thuận bị sóng lớn đánh chìm ngoài khơi tuần trước.
- Vậy là có bao nhiêu người được ghe khác cứu?
- Khoảng trên mười mấy người.
- Mày có biết có mấy người chết không?
- Năm người thì phải, có một thằng được tìm thấy xác rồi.
- Còn bốn người kia thì có hi vọng sống không hả?
- Chà, khó lắm, ngâm dưới nước lạnh vậy, cả sóng to nữa ai mà chịu cho nỗi, phải buông tay thôi.
Một chị nói chen vào:
- Người chết thì ba ngày chìm rồi sẽ nổi lên, sẽ tìm thấy được mà, rồi cũng sẽ tấp vào bờ hoặc ghe tàu thấy trôi trên mặt biển.
- Dễ gì chị ơi. Ở vùng biển mình thì không có cá mập nhưng cá nhỏ nó cũng rỉa rồi.
Chị chép miệng, thở dài:
-Mong sao cho tìm được mấy người đó, gia đình đau khổ ngày đêm mong tin. À, còn bảo hiểm ghe sao mấy anh, có nghe nói gì không?
Một chú nói chen vào:
-Thiệt xui, ghe đó vừa hết hạn bảo hiểm. Vậy đó, không thể nào mà mình lường trước được. Giờ thì ai mà thanh toán cho ghe chủ đây. Chi cũng không bằng ông trời hại mình.
…
Tôi đã từng nghe một em tâm sự về cái nghề “ Biển giã” của gia đình em ấy:
“ Nghề biển là vậy đó. Vì cái nghề nghiệp cổ truyền của người dân biển. Bây giờ họ lại gánh thêm chi phí cái dầu, xăng tăng và hải sản ngày càng ít, đi ra khơi thì bị bọn Trung Quốc nó bắt. Nhà con có ghe. Hai anh đi biển và bạn bè, mấy em ở xóm.... cũng đi biển nên con hiểu cái khổ của nghề biển. Mùa này dân quê biển mình làm ăn không có, phải đợi 2 tháng nữa mới bước vào mùa đánh bắt, bây giờ họ đi là cầm chừng cho qua ngày. Chỉ có người đi biển mới hiểu, thấy biển mênh mông dường nào. Chỉ có biển mới biết ngư dân trên thuyền đi đâu về đâu... đó cô”
…
Chiếc xe về ngang Tân Hải đón một người, đoán chừng là một người đi biển, ngồi ngay cạnh tôi. Thấy tôi vui vẻ bắt chuyện, em kể cho tôi nghe trưa nay em về ghe La Gi đi bạn. Hồi này, ghe người ta không có bạn đi cùng sẽ tìm cách bán lại cho người khác, giá cả rẻ rúng thì cũng bán được thôi. Nhà nghèo, lo vay nợ ngân hàng làm ghe, giờ thì thất bát khó có tiền trả nợ ngân hàng không biết xoay xở vào đâu. Có người cầm cố cả nhà và sổ đỏ đất đai, toàn bộ giao cho ngân hàng.
-Năm nay em bao nhiêu tuổi?
- Dạ, bốn mươi.
Trông em có vẻ già hơn tuổi đó, vì cái nắng, cái gió xứ biển đã như muốn thiêu đốt cái tuổi trẻ của em rồi.
-Em đi biển từ hồi mười một tuổi đó cô. Ở đâu em cũng đi, đi tuốt tận Cà Mau, Kiên Giang.
- Em ơi, vậy mấy ghe giờ này có chạy giã cào không? Kiểm ngư bắt đó.
- Bắt chi được cô, rục rịch là có người gọi điện báo ra liền, tụi em thu dọn hết rồi, còn chi mà bắt.
- Em này, ghe mình có khi đi giã cào đó, có cào cả lưới cụ của ghe khác không vậy?
- Đâu có cô, tụi em tránh chứ, chừa đường cho người ta làm ăn nữa mà cô.
- Ghe mà em đi bạn đi xa hay gần?
- Chỉ đi gần thôi cô, chạy ven ven thôi, có đủ ăn là về, không như mấy ghe lớn kia cả tháng mới vào bờ, có khi ghe khác ra tiếp tế cơm gạo, thức ăn và chở đá ra, rồi lấy cá đã đánh bắt làm đông dưới hầm vào.
- Có mấy ghe đi xa, qua tận lãnh hải của nước ngoài bị bắt, nhà nước có can thiệp, xin về không em?
- Nếu mà ghe mình qua biển Thái Lan, Ma Lai, In Đô …bị bắt thì tiền đâu mà phạt cô. Bạn chài thì tù 6 tháng, tài công bị tù hai năm, sau đó nó cũng thả về thôi. Nhưng cực lắm cô ơi, bị tù cực đã đành, vợ con ở nhà cũng đói lên đói xuống, nợ nần quá trời luôn. Còn nhà nước can thiệp hay không, em không nghe nói đến.
- Cô có đứa cháu, con một người quen, đi biển; chỉ vì một vết lở trên tay, do gãi và bị nhiễm trùng máu, bệnh nặng, khi vào bờ , chở vào thành phố không kịp đó em.
- Dạ, xui rủi, biết đâu mà tránh cô. Mong cho mình có sức mạnh, chống chọi với bệnh tật và sóng lớn cô ơi.
-Vừa rồi, em có nghe vụ chìm ghe ở biển mình không?
- Dạ, có cô, do vào cửa biển Tân Long bị sóng đánh lật nhưng không sao, dân biết bơi cả, nhảy xuống bơi vào bờ, gần mà.
Vậy là em này không biết về vụ chìm ghe mới rồi của tỉnh mình . Em kể một cách vô tư, hồn hậu, không có vẻ lo gì cái sống cái chết gần kề của người đi biển. Gần cầu Tân Lý chảy ra biển, đây là đoạn cuối con sông Dinh tiếp giáp biển Đông, khu vực Tân Long, là nơi các ghe đánh cá hay tấp về trú bão. Có khi ghe thuyền vào đậu chỉ việc va đập nhau cũng dễ bị lật.
-Em còn thấy người ta đi lặn sò không?
- Vẫn còn đó cô.
- Cô thấy sò lông đem lên bé quá, nếu để lớn hơn thì có lợi biết mấy. Dân mình ghe đánh thì gần bờ, bao nhiêu đánh bắt hết trơn trọi. Ban đêm, từ trên dốc Sơn Mỹ nhìn xuống thấy mặt biển toàn là ánh đèn, người ta ngồi trên thúng đi câu mực hả em?
- Dạ, họ câu mực.
- Có lần, cô nghe kể có người đi câu và bị trúng gió chết trong thúng luôn. Có người, thì bị thúng lật, thúng mà lật thì sức nước hút mạnh lắm, con người bị lọt trong thúng khó bơi ra kịp lắm. Phải không?
Ngư dân trẻ tuổi kia gật đầu đồng ý.
Thế đó, biển giã là thế, biết bao gian khổ, có ai từng đi biển mới biết nỗi khổ của ngư dân. Đây chỉ là một vài mẩu đối thoại, chưa có thể nói hết cái khổ của họ.
Chiều thứ năm, 17-7-14
Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014
VƯỢT LÊN NỖI ĐAU LÀ CHIẾN THẮNG
Tôi viết lên những
điều này, có thể coi đó là một câu chuyện ngắn, để kể lại những việc mà tôi đã
giấu kín đi trong lòng mình, giấu đi những nỗi đau của mình để khi vượt lên
được những nỗi đau này, giờ này tôi có thể nói một điều là tôi đã chiến thắng.
Ngày nào xa thật xa
kia, tôi đứng ngồi không yên, hồi hộp chờ nghe người ta gọi tên chồng mình để
chạy lên phòng hồi sức, xem anh như thế nào sau khi mổ. Không hề nghe
gọi tên. Có thể người ta ghi tên một đường mà gọi một nẻo, cả nhà ai cũng lắng
tai nghe mà không hề có. Đến khi tự mình lên cửa phòng mổ không thấy, vội chạy
đến cửa thang máy, thấy một bệnh nhân nằm ở đó, mắt nhắm nghiền, đó là chồng
mình. Thật nhẫn tâm. Không có gì đau đớn hơn, tôi cảm thấy mình đau với những nỗi
đau thể xác của anh.
Cũng không có gì đau khổ hơn khi một bên là người chồng không
còn có cơ hội sống, chờ từng giờ, một bên là những sự dằn vặt của những người
thân của anh. Tôi đã bật khóc và chạy ra ngoài hành lang. Điều này tôi đã kể
cho một cô, là người quen thân thiết của tôi, đã từng chia bùi sẻ ngọt với vợ
chồng chúng tôi, cô ấy nói: “Ai là người đau khổ hơn? Người vợ là người đau hơn
ai cả. Tại sao không thấy được điều đó”.
Đêm hôm khuya khoắt đem anh về nhà, cả xóm hầu như thức trắng
để chờ xe chở anh về đến nơi. Ai cũng muốn được nhìn mặt anh lần cuối. Chỉ là
bóp những hơi bóng để kéo dài sự sống cho anh, chờ lúc đẹp ngày cho anh ra đi.
Thầy trưởng phòng, các thầy cô ở phòng giáo dục, bạn bè đồng nghiệp ai cũng đến
để chia tay anh. Tôi luôn ngồi đó cầm tay để chuyền vào cho bàn tay anh hơi ấm
còn lại. Cô học trò ngày nào giờ là bác sĩ cũng đến để tìm đường ven một cách
khó khăn chuyền nước cho anh. Rồi giây phút cuối cùng cũng đến, lúc vừa qua
ngày mới, người bà con ngừng bóp bóng, sự sống của anh cũng vừa chấm dứt. Tôi
đã mất đi người chồng, các con tôi đã mất đi người cha.
Tôi không có con trai, chỉ có ba đứa con gái côi cút. Nếu hồi
đó, tôi mạnh mẽ như bây giờ thì tôi sẽ đòi cho con gái đầu của tôi ôm lư hương
thờ của cha nó, cần gì phải nhờ đến đứa cháu trai. Có một chị gần nhà bảo với
tôi rằng: chồng chết sao không có khóc? Tôi khóc trong lòng đó chứ, nước mắt
tôi đã chảy ngược vào trong, tôi đâu có cần thể hiện ra ngoài.
Hôm nay đây, tôi vừa xong nghĩa vụ với xã hội cũng vừa xong
nhiệm vụ với gia đình. Con gái bé nhỏ cũng vừa xong lớp đại học. Xong rồi những
nổi lo lắng ưu tư khi một mình lo toan cho cả mấy đứa con qua ngưỡng cửa đại
học thay cho mẹ nó ngày xưa vì thời thế nên không toại nguyện với ước mơ. Tôi
cảm thấy tự hào vì mình đã chiến thắng, tôi đã can trường như lời ngày xưa anh
từng khuyên tôi như Viên ngọc trong đá, cần can trường, vững vàng trước cuộc
sống. Trước đây, có lúc tôi ủy mị khi xem một bộ phim kể về một cặp vợ chồng,
trước khi người chồng ra đi và luôn mong muốn có người chắp cánh cho hạnh phúc
của người vợ. Tôi đã từng như thế, từng ủy mị như thế, cứ nghĩ mình sống với
tâm trạng của nhân vật trong phim. Ai ngờ đường đời không bằng phẳng mà lắm
chông gai. Hạnh phúc đôi lứa không bao lăm khi mà tôi cứ mong mỏi cho tròn đến
hai mươi lăm ngày cưới để kỉ niệm. Dù sao cũng suýt soát gần ngần ấy, hai mươi
lăm năm trời kể từ ngày quen nhau. Tôi đã để dành tất cả tình yêu thương, hi
sinh cho con cái. Tôi đã bỏ cái tôi riêng tư của mình sang một bên để làm việc
cật lực hơn. Khi làm việc, tôi nghĩ đến con, khi ăn tôi cũng nghĩ đến con. Dù
sao mình ở đây còn dễ chịu với cuộc sống dân giả, giản dị, con mình ở thành phố
phồn hoa làm sao no đủ.
Dù sao, tôi cũng cảm ơn cuộc đời đã mỉm cười với tôi, đã cho
tôi nhiều niềm vui sống, nhiều cảm hứng thi vị, tình yêu thương vị tha, để cách
nhìn của tôi lạc quan hơn, tôi đã dẹp bỏ được những tư tưởng tiêu cực, có khi
nó chen vào làm cho tôi chùn chân bước. Cuộc đời còn dài trước mắt và tôi sẽ
vẫn còn tiếp tục bước về phía trước. Mình tôi, chỉ mình tôi thôi, thế là đủ
rồi.
Viết xong khuya thứ tư ngày 2-7-14 (Đinh Thị Hiệp)
Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014
Kỉ niệm trường xưa
THỰC TẬP
Thực tập là khoảng thời gian mà chúng tôi phải tạm rời xa mái trường sư phạm, xa rồi những buổi chiều thư thả đi bộ lên đầu cầu Phú Long. Đây là chuỗi ngày đi vào thực tế để làm quen với nghề dạy học.Tôi về một ngôi trường ở xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, một xã ở phía bắc của Phan Thiết, còn anh về một ngôi trường gần ở xã Hàm Thắng. Tôi đi chung với ba cô bạn cùng lớp, được cho ở nhờ tại nhà của một gia đình, nhà để không nên họ sẵn lòng cho chúng tôi ở trong thời gian thực tập.
Việc ăn ở, dạy học dần dà đã đi vào nếp thường nhật. Tôi được thầy Bông, ông thầy hiệu trưởng cao to, vui tính phân công vào dạy một lớp. Học sinh lớp tôi toàn là con cái nhà nông, trai có gái có, những cô bé cậu bé thật ngây ngô không kém phần nghịch ngợm. Một bé trai tên rất dễ nhớ là Lê Văn Cằn đã gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc: hằng ngày sau buổi học, em hay đi bắt thằn lằn, những con thằn lằn còn ngo ngoe trong túi ni lon. Tôi hỏi em bắt để làm gì? Em thật thà kể cho tôi nghe về món thuốc trị bệnh suyển. Tôi không tưởng tượng ra được cảnh nhà em làm thịt những con thằn lằn bé tí kia như thế nào.
Đường vào làng là con đường đất đỏ ngoằn ngoèo. Nhà này cách nhà nọ xa lắm phải qua những khu vườn nhiều cây trái hay là những ô ruộng xanh rì, có hàng dừa nghiêng bóng bên lạch nước. Sau buổi đi dạy về, tôi thường ngồi ở hàng hiên nhìn ra trên kia là động cát cao, thấp thoáng có những mái nhà nho nhỏ. Tôi cùng các chị đi lấy nước uống ở đoạn đường xa, phải lội bộ trên đường đất mấp mô và len qua các bụi cây gai góc. Giếng nước ở trên động cát, nước đã lắng qua mấy lớp cát trắng phau nên từng gàu nước múc lên trong vắt như không hề có gợn bẩn. Trưa nào cũng vậy, tôi thấy mấy anh thanh niên đi lên động đào dông, cuối buổi chiều họ mang về những con dông bông xám, mập múp míp bị cột thành từng xâu . Sau bữa cơm chiều, màn đêm cũng buông xuống thật nhanh, chung quanh là cả một bóng tối mịt mùng như vây phủ lấy ngôi làng bé nhỏ yên ắng. Tiếng ếch nhái ở đâu đó dưới ruộng bắt đầu thi đua gọi nhau ộp oạp ộp oạp thật đều đặn. Chỉ có ngọn đèn dầu lấp lóa trong ngôi nhà đủ để tạo ra một không gian ấm cúng cho cả mấy cô giáo trẻ đang chuẩn bị những trang giáo án sáng hôm sau lên lớp.
Ở hai đầu nỗi nhớ, mỗi tuần anh tìm cách lên thăm tôi. Hàm Thắng đi lên Hàm Đức phải chờ đón xe ngựa. Đường đi khá xa phải chừng mười cây số. Hình ảnh chiếc xe thổ mộ với người chủ thật khéo léo điều khiển lấy con ngựa mạnh khỏe, tiếng gõ lọc cọc của vó ngựa cứ đều đều trên đường nhựa nay đã xa vời. Thời gian gặp gỡ nhau không bao lâu, chúng tôi phải chia tay. Trong giai đoạn này, những năm 1978, 1979 cuộc sống thật vô cùng khó khăn. Là người đồng hương, chúng tôi đã có những mối cảm thông chia sẻ khi xa nhà.
Thời gian thực tập đã kết thúc. Tiếp tục những buổi lên lớp, lại ngồi đón những tia nắng ấm ban mai ở hành lang trước giờ vào học. Chúng tôi không khỏi lo lắng khi nghĩ đến ngày thi tốt nghiệp, trở về địa phương.
Một năm học ở trường sư phạm, kết thúc thời gian thực tập, thi cử, chúng tôi ra trường, trở thành những cô giáo, thầy giáo trẻ. Chúng tôi đã được chắp đôi cánh ước mơ, mang vào mình cả một hoài bão lớn lao để vào đời.
Tối thứ bảy 28-6-14
Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014
Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014
TIẾNG CÒI TÀU NĂM XƯA
TIẾNG CÒI TÀU NĂM XƯA
Tiếng còi tàu năm
xưa trên đường về quê nội đã in sâu vào tiềm thức của cô bé, đó chính là tôi
cách đây đã hơn bốn mươi năm trời, một quãng thời gian quá dài, gần cả một nửa
đời người. Giờ đây, hình ảnh đó, âm thanh đó như hiện ra, như những thước phim dĩ vãng đang dần quay
trở lại.
Những ngày giáp Tết đâu đầu năm 1971, tôi được mẹ dẫn về làng
Truồi thăm nội. Trong không khí rộn ràng của ngày xuân, bất chợt, tiếng còi tàu
vang lên từ rất xa, đâu đó trên chiếc cầu sắt kia, từng hồi còi tàu vọng lại
như thôi thúc…Rồi âm thanh càng lúc càng gần gụi, nghe rõ mồn một. Tôi ngước
nhìn lên, cả một đoàn tàu dài đang lướt nhanh ở bên kia, tiếng sầm sập của
những chiếc bánh tàu lăn trên con đường ray. Khi những toa tàu đã khuất xa rồi
mà tôi vẫn nghe từng hồi còi còn vọng mãi. Lần đầu tôi nhìn thấy tàu hỏa nên
tôi ngơ ngẩn đứng nhìn theo mãi. Chuyến tàu mới đẹp làm sao, đã mang vào trong
trái tim non dại của tôi một hình ảnh về miền quê nội yêu dấu. Nơi đây có
chuyến tàu qua, có mái đình, có khu chợ nghèo, có chiếc cầu đen trùi trũi kia,
còn có chiếc lô cốt cao được xây lâu đời từ thời Pháp thuộc.
Tôi đã đi trên con đường làng quê yên bình. Là dịp vào những
ngày Tết, nghỉ ngơi nên trên bãi đất rộng bà con trong làng tổ chức chơi bài
chòi bằng người, những lá cờ nhiều màu sắc tung bay trong nắng ấm sáng mai.
Chúng tôi về thăm ông bà nội, gia đình chú, những người bà con thân thuộc của
tôi. Sáng sớm hôm sau, tôi được dẫn đi thăm mộ của Tổ Tiên nằm bên kia quốc lộ.
Đây là con đường chạy dài từ Nam
ra Trung. Làng nội của tôi cách Huế khoảng chừng gần ba mươi cây số. Nghĩa
trang nằm gần dưới chân núi. Tôi nhìn lên ngọn núi mà cứ tưởng chừng như không
xa xôi. “Núi Truồi ai đắp mà cao”... Ngày xa xưa ấy, tôi chưa có khái niệm về
khoảng không gian xa từ ở bên này nhìn sang cao tít bên kia là núi Truồi. Những
ước mơ của tôi chiêm ngưỡng ngọn núi, về một chuyến tàu đi chơi xa, về con đò
trên dòng sông xanh ngăn ngắt, trong veo như thôi thúc tôi, nó cứ chảy mãi
trong huyết quản của tôi vậy. Những khu vườn, những nương sắn xanh um, những
mảng rừng núi xa tít tắp ở chân trời, nơi đâu đó là đầu nguồn dòng sông Truồi
quê nội tôi. Tôi chỉ là đứa cháu ở xa, ít về thăm nội. Khi đã lớn khôn,
có dịp tìm đường về thăm quê thì ông bà nội không còn nữa, nhưng sự hàn gắn
tình cảm thân thương, ruột thịt của những người bà con, thân thuộc vẫn không
ngừng trong tâm hồn tôi.
Đầu năm 2012, tôi có dịp ra Bắc, chuyến tàu qua Huế vào buổi
hôm khuya khoắt một giờ sáng; trên sân ga vắng ngắt như tờ. Khi về, tàu chạy
ngang làng Truồi, tôi cố nhoài ra để xem cảnh vật của vùng quê mà đã 40 năm
chưa lần trở lại, nhưng tôi không thể thấy gì nhiều hơn là những bụi cây ven
đường dưới màn sương và mưa lất phất buổi sáng. Tôi mang trong mình một nỗi day
dứt, hứa trong lòng sẽ có dịp sẽ về quê vào một ngày gần nhất.
Mùa
hè năm 2012, sau 40 năm xa quê hương, tôi tìm về quê. Tôi lại vượt qua quốc lộ,
qua con đường đất đỏ, dẫn bước chân tôi ra gần hồ Truồi, nơi đó có mộ phần của
Tổ Tiên, ông bà của chúng tôi, dòng họ của tôi. Tôi đã ở trên chuyến tàu về quê
hương với những cảm xúc có lúc như gần gũi, có lúc như xa vời, ôi những nỗi nhớ
quê quá chừng khó nói hết. Tôi chỉ biết rằng đôi mắt mình đã cay xè tự hồi nào.
Tôi ra bến sông tìm lại bóng dáng con đò năm nao, tìm lại vườn cây xanh mát đã
từng ẩn sâu trong kí ức…Tôi nhìn về hướng cầu sắt, bên kia là bến Lộc Điền mà
nghe kể ngày xưa mệ nội tôi đã từng qua sông tảo tần nuôi con. Hôm nay, trên
dòng sông này ít có sự thay đổi, vẫn còn mộc mạc, chân chất, vẫn còn là miền
sông nước mang màu xanh ngát trong. Quê nội, làng Truồi dang tay đón tôi, những
người thân yêu của tôi đây sẵn sàng chờ đón ngày về của tôi. Quê nội ơi, tôi đã
về đây rồi. Tối thứ tư 18-6-14 (Đinh Thị Hiệp)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




















